Hóa giải “lời hèm” hát Dô
QĐND - Thứ hai, 09/07/2012 | 17:53 GMT+7 printIn trang này

QĐND Online - Hát Dô, điệu hát cổ xứ Đoài, một thời bị rơi vào quên lãng đã được người dân xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai (Hà Nội) vượt qua bao khó khăn, thử thách của lời “hèm” cay nghiệt để phục hồi và gìn giữ.

Lời “hèm” cay nghiệt

Đối với dân làng Đại Phu, xã Liệp Tuyết, hát Dô giờ đây đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu sau mỗi ngày lao động vất vả. Thế nhưng ít ai biết rằng một thời người dân nơi đây xem đó là “món quà thánh” với “lời hèm” cay nghiệt, ai vi phạm sẽ mang tội với thánh, rước họa vào thân. Người dân Liệp Tuyết vẫn còn nhớ câu ca: “Con hát tuổi hạn hai mươi/ Nếu qua tuổi ấy thì thôi hát hò/ Bao giờ đến Hội hát Dô/ Thì còn phải kiếm gái tơ chưa chồng…”. Nghe câu ca ấy thì chắc hẳn trong lòng ít ai dám theo đuổi hát Dô chỉ vì lời “hèm” cay nghiệt.

Một tiết mục hát Dô của CLB (ảnh chụp lại)

Để tìm hiểu về “hèm”, chúng tôi đã tìm đến nhà bà Nguyễn Thị Lan, chủ nhiệm CLB Hát Dô xã Liệp Tuyết. Bà Lan năm nay 54 tuổi. Chồng mất từ lúc bà 27 tuổi, bà ở vậy một mình nuôi con.

Bà Lan kể: Xưa kia Đức thánh Tản Viên Sơn, một hôm du xuân tại La Hạ, nay là làng Đại Phu, thấy nơi đây ruộng đất phì nhiêu, đồng quê chiêm trũng, dân thưa thớt, đã chọn hạt giống tốt, xắn quần xuống ruộng dạy nhân dân cày cấy. Sau đó Ngài tiếp tục chu du thiên hạ hẹn ngày lúa chín sẽ trở lại. Đúng 36 năm sau, quay lại thấy dân đã giàu có, thóc lúa đầy đồng, Ngài tập hợp nam thanh nữ tú trong làng lại để dạy múa hát, mừng ấm no. Rồi Ngài lại đi. Từ đó dân làng lập đền thờ nhớ ơn Đức thánh Tản Viên. Cứ theo lệ 36 năm một lần dân làng lại mở hội ca hát tưng bừng, gọi là hát Dô.

Theo lời nguyền của dân làng thì cứ 36 năm mới được mở hội hát Dô một lần, vào tháng 8 năm thứ 35 dân làng bắt đầu tuyển các thiếu nữ từ 12 đến 18 tuổi. Sau khi mở tráp lấy sách cho các thiếu nữ học từ mồng 10 đến 15 thì phải cất sách vào tráp, 35 năm sau mới được mở ra. Dân làng tuyệt đối không ai được nhắc đến hát Dô. Ai hát hoặc chỉ cần nhắc đến thì sẽ bị câm điếc, rước họa vào thân. Người dân nơi đây còn đồn thổi câu chuyện, có người con gái có chồng đi hát Hội, về nhà trở nên ngớ ngẩn, suốt ngày bứt chiếu ăn; có cụ đang khỏe mạnh từ khi tham gia hát Dô bỗng ốm bất thường, tự trút bỏ quần áo trên người đi lang thang…Thế nên, nhiều người tin rằng đó là lời nguyền của hát Dô năm xưa.

Hội hát Dô được tổ chức từ ngày 10 đến 15 tháng Giêng tại đền Khánh Xuân. Hội hát Dô gần đây nhất được tổ chức năm 1926. Theo thời gian, và một phần do chiến tranh loạn lạc, điệu hát Dô dần rơi vào quên lãng.

Việc nghĩa cốt ở cái tâm

Đến năm 1989, ý thức được điệu hát cổ đang bị thất lạc, được sự đồng ý của Phòng Văn hóa huyện Quốc Oai, xã Liệp Tuyết đã quyết tâm phục dựng lại điệu hát Dô. Thế nhưng việc tìm lại một điệu hát cổ đã mai một không phải dễ. Lúc bấy giờ bà Lan đang là cán bộ ban phụ nữ của xã được giao nhiệm vụ tìm kiếm, sưu tầm phục hồi lại những lời hát Dô cổ.

Nhớ lại, bà Lan bùi ngùi: “Ngày đó tôi tập hợp được 25 người, bao gồm cả những cụ bà và thanh thiếu niên. Các cụ từng hát Hội như cụ Tạ Văn Lai, cụ Kiều Thị Nhuận, cụ Đàm Thị Điều… chính là nguồn tư liệu sống của hát Dô. Cứ tranh thủ lúc nông nhàn, tôi lại mang sách, bút giấy đến nhà các cụ xin ghi lại lời hát Dô. Khó khăn là thế mà kinh phí không có, quần áo đạo cụ phải đi mượn, mỗi buổi tập cả đội được 15 kg lúa”.

 Năm 1998, CLB hát Dô được thành lập, với 20 cháu độ tuổi từ 11đến 17 tuổi. Mỗi tối, các cháu lại tụ tập tại nhà bà Lan học hát. Có lần 2 cháu nghỉ học, rồi 8 cháu bỏ học theo. Đang lo lắng không hiểu vì sao thì tình cờ bà Lan được nghe một cháu tâm sự: Gia đình cháu cấm không cho đi hát vì bà của cháu đang bị bệnh nặng, tâm thần không ổn định, năm xưa bà cũng đi hát hội. Hiểu ra cơ sự, bà Lan đến từng gia đình tìm gặp các bậc phụ huynh thuyết phục rằng: Mình đang làm việc tốt, hát Dô là vốn văn hóa quý của quê nhà, khó khăn lắm mới phục dựng lại được nay không lẽ để mất đi. Được lời như cởi tấm lòng, gia đình các cháu đồng thuận. Lãnh đạo xã trong các cuộc họp cũng vận động các gia đình cho các cháu tham gia. Thế là CLB hát Dô lại hồi sinh mạnh mẽ.

Đằm thắm hát Dô

Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi bà Lan là “kho tàng hát Dô”, bởi hát Dô có 36 làn điệu thì bà gần như “nắm” trong…lòng bàn tay. Những câu hát của bà Lan cứ ám ảnh người nghe bởi sự nhập tâm, hóa vai chuẩn mực. Nhìn bà hướng dẫn cô học trò 18 tuổi mà như say trong điệu hát. Chỉ sau cái phe phẩy quạt, từng ngón tay uốn lượn dẻo dang, những câu hát cất lên mượt mà: “Trúc trúc, mai mai, nào khi trúc trúc, mai mai/ rồng ra dãi nắng, cú ngồi ngoài mưa…”, hay “Rủ là rủ nhau, rủ là rủ nhau, ồ rằng lên núi, ồ rằng lên núi, lên núi hái chè/ Hái dăm ba mớ, xuống khe, xuống khe ta ngồi, ta ngồi…”.

Bà Lan cho biết, hát Dô hay bởi nó gần gũi, dân dã, từ câu chữ đến lối diễn đều mô phỏng đời sống hằng ngày của người lao động như: nuôi tằm, cày cấy, may áo, dệt vải… Đội hình hát Dô bao gồm Cái hát (nam) và các Bạn nàng (con gái hát). Trang phục là áo tứ thân, guốc mộc quai thừng, quạt giấy.

Ghi nhận ý nghĩa xã hội, văn hóa của hát Dô, năm 2003, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đã công nhận hát Dô là địa chỉ văn hóa dân gian. Năm 2005, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã phối hợp với quỹ Ford thực hiện dự án bảo tồn và phát huy hát Dô; bà Nguyễn Thị Lan được công nhận danh hiệu nghệ nhân hát Dô.

Bài và ảnh: Phạm Kiên